Nghị định 144/2026/NĐ-CP quy định mới về thuế giá trị gia tăng

07/05/2026

Ngày 5/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng (“GTGT”) đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định 359/2025/NĐ-CP (“Nghị định 144”), có hiệu lực kể từ ngày 20/06/2026. Việc ban hành Nghị định 144 được đánh giá là bước hoàn thiện quan trọng trong khung pháp lý về thuế GTGT, nhằm tháo gỡ một số vướng mắc phát sinh trong thực tiễn áp dụng, đồng thời bảo đảm tính thống nhất với các quy định mới của pháp luật thuế hiện hành.

Dưới đây là một số điểm nổi bật của Nghị định 144:

1. Bổ sung đối tượng không chịu thuế GTGT 

  • Khoản 1 Điều 1 Nghị định 144 bổ sung khoản 3a vào sau khoản 3 Điều 4 Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định về đối tượng không chịu thuế GTGT gồm: (i) Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm người học, các dịch vụ bảo hiểm khác liên quan đến con người; (ii) bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây trồng, các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp khác; (iii) bảo hiểm tàu, thuyền, trang thiết bị và các dụng cụ cần thiết khác phục vụ trực tiếp đánh bắt thủy sản; (iv) tái bảo hiểm theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm; và (v) bảo hiểm các công trình, thiết bị dầu khí, tàu chứa dầu mang quốc tịch nước ngoài do nhà thầu dầu khí hoặc nhà thầu phụ nước ngoài thuê để hoạt động tại vùng biển Việt Nam, vùng biển chồng lấn mà Việt Nam và các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện đã thỏa thuận đặt dưới chế độ khai thác chung.
  • Khoản 2 Điều 1 Nghị định 144 sửa đổi, bổ sung điểm đ khoản 4 Điều 4 Nghị định 181/2025/NĐ-CP về các dịch vụ tài chính, ngân hàng, kinh doanh chứng khoán, thương mại thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT gồm bán nợ bao gồm bán khoản phải trả và khoản phải thu, bán chứng chỉ tiền gửi.

2. Sửa đổi quy định về khấu trừ thuế GTGT

Nghị định 144 sửa đổi điểm a và bổ sung điểm c của khoản 2 Điều 23 Nghị định 181/2026/NĐ-CP quy định về khấu trừ thuế GTGT như sau:

a) Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa (bao gồm cả tài sản cố định), dịch vụ sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế thì chỉ được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT.

b) Theo đó, cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ; trường hợp không hạch toán riêng được thì số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ tính theo tỷ lệ % giữa doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT so với tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ bán ra trong kỳ tính thuế. Trong đó:

  • Tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra bao gồm doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT; doanh thu của hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT; GTGT của hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý (trừ trường hợp GTGT âm (-)) và doanh thu của hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản 2 Điều 40 Nghị định 144 (nếu có);
  • Doanh thu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xác định theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng; doanh thu của hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán được xác định theo quy định của pháp luật về chứng khoán; doanh thu của hoạt động kinh doanh bảo hiểm được xác định theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.
  • Doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT quy định tại khoản này bao gồm cả doanh thu của hàng hóa không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT (nếu có) quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Thuế GTGT 2024 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Thuế GTGT sửa đổi 2025.

3. Sửa đổi quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt trong một số trường hợp đặc biệt

Về điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào, Nghị định số 144 cũng sửa đổi, bổ sung điểm quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt trong một số trường hợp đặc biệt như sau:

  • Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ 05 triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ bằng văn bản, hóa đơn GTGT và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
  • Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
  • Đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng.
  • Trường hợp sau khi điều chỉnh, cơ sở kinh doanh có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh được kê khai, khấu trừ số thuế GTGT đầu vào đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.