Báo cáo giao dịch ngoại tệ từ 1.000 USD và cơ chế đặc thù tại Trung tâm Tài chính Quốc tế

08/09/2025

Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng dự thảo Nghị định quy định về việc cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại Trung tâm Tài chính Quốc tế ở Việt Nam. Đây được coi là nền tảng pháp lý quan trọng cho sự hình thành và vận hành mô hình Trung tâm Tài chính Quốc tế, đồng thời đảm bảo kiểm soát rủi ro dòng vốn xuyên biên giới.

Một số những nội dung đáng chú ý của dự thảo như sau:

1. Quy định về kiểm soát dòng vốn và quản lý ngoại hối

  • Một trong những mục tiêu chính của dự thảo là ngăn ngừa việc lợi dụng Trung tâm Tài chính Quốc tế để chuyển vốn từ phần còn lại của nền kinh tế trong nước ra nước ngoài, đi ngược định hướng thu hút vốn về Việt Nam. Vì vậy, dự thảo đưa ra quy định giới hạn: các thành viên của Trung tâm Tài chính Quốc tế sẽ không được huy động vốn từ tổ chức, cá nhân trong nước nếu không phải là thành viên của Trung tâm.
  • Về quản lý ngoại hối, dự thảo yêu cầu mọi giao dịch thanh toán và chuyển tiền ngoại tệ giữa các thành viên phải được thực hiện thông qua tài khoản ngoại tệ mở tại ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh Ngân hàng Nhà Nước là thành viên Trung tâm Tài chính Quốc tế. Điều này nhằm đảm bảo tách bạch giữa hoạt động trong Trung tâm và các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam, hạn chế rủi ro bị lợi dụng chính sách.

2. Giao dịch từ 1.000 USD thuộc ngưỡng báo cáo

  • Đối với báo cáo giao dịch chuyển tiền điện tử thì theo Khoản 4 Điều 127 của dự thảo, các đối tượng báo cáo tại Trung tâm Tài chính Quốc tế phải tuân thủ chế độ báo cáo quốc tế. Cụ thể, mọi giao dịch chuyển tiền điện tử quốc tế từ 000 USD trở lên, hoặc giao dịch trong nước từ 500 triệu đồng trở lên, đều thuộc diện phải báo cáo theo Thông tư 09/2023/TT-NHNN.
  • Ngân hàng Nhà Nước cho biết hầu hết giao dịch tại Trung tâm Tài chính Quốc tế sẽ thông qua hệ thống thanh toán quốc tế như SWIFT, nên việc áp dụng chế độ báo cáo quốc tế cho toàn bộ các giao dịch là cần thiết nhằm kiểm soát rủi ro ngay từ đầu. Sau khi Trung tâm Tài chính Quốc tế đi vào vận hành, Ngân hàng Nhà Nước sẽ đánh giá tổng thể về quy mô, mức độ rủi ro và khả năng lưu trữ, khai thác thông tin của hệ thống dữ liệu. Từ đó, cơ chế báo cáo có thể được điều chỉnh linh hoạt để phù hợp hơn với thực tiễn.

3. Cơ chế xử lý sự cố

  • Ngân hàng Nhà Nước sẽ không áp dụng cơ chế can thiệp sớm, kiểm soát đặc biệt, tái cơ cấu hay cho vay đặc biệt đối với các ngân hàng thành viên của Trung tâm Tài chính Quốc tế. Lý do là các ngân hàng trong Trung tâm không nhận tiền gửi từ cá nhân trong lãnh thổ Việt Nam, do đó không cần áp dụng bảo hiểm tiền gửi như hệ thống ngân hàng truyền thống. Khi có sự cố, việc xử lý sẽ được thực hiện thông qua cơ chế thu hồi giấy phép, giải thể hoặc phá sản tại Tòa án chuyên biệt của Trung tâm.
  • Các ngân hàng thành viên sẽ bị rút giấy phép, giải thể, phá sản hoặc thanh lý tài sản nếu rơi vào một trong bốn tình huống sau:

a) lỗ lũy kế vượt 15% vốn điều lệ và quỹ dự trữ, đồng thời vi phạm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu;

b) vi phạm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu liên tục trong 6 tháng;

c) vi phạm tỷ lệ khả năng chi trả trong 30 ngày liên tục;

d) xảy ra tình trạng rút tiền hàng loạt dẫn tới nguy cơ mất khả năng thanh toán.