Bộ Tài chính đang lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử (“Dự thảo”). Dự thảo được xây dựng nhằm tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ trong bối cảnh chuyển đổi số, đồng thời xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình áp dụng quy định hiện hành.
Dưới đây là một số nội dung nổi bật của Dự thảo:
1. Đối tượng áp dụng quy định về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử
Dự thảo mở rộng phạm vi điều chỉnh, bao gồm hầu hết các chủ thể có liên quan đến hoạt động phát hành, sử dụng và quản lý hóa đơn, chứng từ, cụ thể:
a) Tổ chức, cá nhân bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ bao gồm: 
- Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam; chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam;
- Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, tổ hợp tác;
- Đơn vị sự nghiệp công lập có bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ;
- Tổ chức không phải là doanh nghiệp nhưng có hoạt động kinh doanh;
- Tổ chức nước ngoài có hoạt động kinh doanh, cung cấp dịch vụ thông qua nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác đăng ký tự nguyện sử dụng hóa đơn điện tử theo quy định tại Nghị định này;
b) Tổ chức, cá nhân mua hàng hóa, dịch vụ;
c) Tổ chức thu thuế, phí và lệ phí;
d) Người nộp thuế, phí và lệ phí;
e) Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm khấu trừ thuế theo quy định của pháp luật thuế; tổ chức, cá nhân khai thay, nộp thuế thay theo quy định của pháp luật về thuế và pháp luật về quản lý thuế;
f) Cơ quan quản lý thuế;
g) Các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc quản lý, sử dụng hóa đơn và chứng từ.
2. Chuyển đổi hóa đơn, chứng từ điện tử sang hóa đơn, chứng từ giấy
Dự thảo cho phép chuyển đổi hóa đơn, chứng từ điện tử sang bản giấy trong các trường hợp cần thiết phục vụ nghiệp vụ hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền (thuế, kiểm toán, thanh tra, điều tra). Theo đó:
- Việc chuyển đổi hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử thành hóa đơn, chứng từ giấy phải bảo đảm sự khớp đúng giữa nội dung của hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử và hóa đơn, chứng từ giấy sau khi chuyển đi; và
- Hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử được chuyển đổi thành hóa đơn, chứng từ giấy thì hóa đơn, chứng từ giấy chỉ có giá trị lưu giữ để ghi sổ, theo dõi theo quy định của pháp luật về kế toán, pháp luật về giao dịch điện tử, không có hiệu lực để giao dịch, thanh toán, trừ trường hợp hóa đơn được khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối chuyển dữ liệu điện tử với cơ quan thuế.
3. Các trường hợp không sử dụng hóa đơn điện tử
Theo đó, Dự thảo quy định một số trường hợp không được sử dụng hóa đơn điện tử, cụ thể:
- Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng, không phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân;
- Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ thông qua sàn thương mại điện tử có chức năng thanh toán, đã được chủ quản sàn thương mại điện tử thực hiện khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay theo từng giao dịch trừ trường hợp người mua yêu cầu thì chủ quản sàn thương mại điện tử có trách nhiệm lập hóa đơn điện tử giao cho người mua.
- Đại lý bảo hiểm, cá nhân hợp tác kinh doanh với doanh nghiệp bảo hiểm đã được doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện khấu trừ thuế đối với doanh thu lũy kế đạt ngưỡng doanh thu thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân trừ trường hợp người mua yêu cầu lập hóa đơn
- Các khoản phí và các khoản thu khác phát sinh từ hoạt động tái bảo hiểm (bao gồm nhượng tái bảo hiểm, các khoản thu hoa hồng nhượng tái bảo hiểm và các khoản thu khác về nhượng tái bảo hiểm), giao dịch tiền gửi, giao dịch tài chính (chứng chỉ tiền gửi, chứng khoán, phát hành chứng khoán sơ cấp, giấy tờ có giá), bán nợ, giao dịch ngoại tệ và giao dịch sản phẩm phái sinh;
- Các trường hợp theo quy định tại điểm a, điểm b, điểm c khoản 1 Điều 6 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Dự thảo thể hiện xu hướng tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý về hóa đơn, chứng từ điện tử theo hướng đồng bộ, minh bạch và phù hợp với thực tiễn số hóa. Doanh nghiệp và các chủ thể liên quan cần chủ động theo dõi, đánh giá tác động để kịp thời thích ứng khi quy định chính thức được ban hành.




