Ngày 15/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 283/2026/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (“Nghị định 283”) . Nghị định 283 phân loại hành vi, xác lập khung pháp lý về hình thức xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả,… và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/9/2026. Cụ thể:
1. Trường hợp vi phạm quy định về việc làm: Nghị định quy định mức phạt tiền theo từng nhóm hành vi, cụ thể:
a) Từ 5 – 10 triệu đồng đối với hành vi phân biệt đối xử trong việc làm không xuất phát từ yêu cầu đặc thù của công việc và các hành vi duy trì, bảo vệ việc làm cho người lao động dễ bị tổn thương; trừ các hành vi phân biệt đối xử khác được quy định trong Nghị định 283;
b) Từ 20 – 40 triệu đồng đối với hành vi khai thác, chia sẻ, sử dụng trái phép thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về người lao động và thị trường lao động chưa được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền công bố, phổ biến mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
c) Từ 45 – 60 triệu đồng đối với hành vi hoạt động dịch vụ việc làm khi không phải là tổ chức dịch vụ việc làm được thành lập hợp pháp;
d) Từ 50 – 70 triệu đồng đối với các hành vi: 
- Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện chính sách về việc làm, đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Lợi dụng hoạt động dịch vụ việc làm xâm phạm đến chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, dân tộc, trật tự, an toàn xã hội, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Mua bán, trao đổi, chiếm đoạt trái phép thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về người lao động và thông tin về thị trường lao động chưa được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền công bố, phổ biến mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Theo đó, tổ chức bị xử phạt đối với hành vi gian lận, giả mạo hồ sơ sẽ bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật vi phạm hành chính là hồ sơ giả mạo. Đối với hành vi hoạt động dịch vụ việc làm khi không phải là tổ chức dịch vụ việc làm được thành lập hợp pháp, tổ chức vi phạm phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả bằng cách buộc trả lại cho cá nhân, tổ chức sử dụng dịch vụ việc làm khoản tiền đã thu của cá nhân, tổ chức sử dụng dịch vụ việc làm và khoản tiền lãi của số tiền này tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt.
2.Trường hợp vi phạm quy định về tuyển dụng, quản lý lao động
Đối với nhóm hành vi vi phạm này, Nghị định 283 quy định ba khung phạt tiền, phân theo mức độ nghiêm trọng của hành vi:
a) Khung phạt từ 1 – 3 triệu đồng, áp dụng cho người sử dụng lao động khi thực hiện một trong các hành vi sau:
- Không thực hiện việc khai trình sử dụng lao động theo quy định pháp luật;
- Thu tiền của người lao động khi tham gia tuyển dụng;
- Không ghi chép hoặc cập nhật đầy đủ thông tin người lao động vào sổ quản lý lao động kể từ ngày người đó bắt đầu làm việc;
- Không xuất trình sổ quản lý lao động khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
b) Khung phạt từ 5 – 10 triệu đồng, áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có một trong các hành vi:
- Phân biệt đối xử trong lao động, trừ các hành vi phân biệt đối xử khác được quy định trong Nghị định 283;
- Sử dụng lao động chưa qua đào tạo hoặc chưa có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia đối với những công việc bắt buộc phải đáp ứng điều kiện này;
- Không báo cáo tình hình biến động lao động theo quy định;
- Không lập sổ quản lý lao động, hoặc lập sổ không đúng thời hạn, không đảm bảo nội dung cơ bản theo quy định pháp luật.
c) Khung phạt từ 50 – 75 triệu đồng, áp dụng đối với hành vi lôi kéo, dụ dỗ, hứa hẹn, quảng cáo gian dối hoặc dùng thủ đoạn khác nhằm lừa gạt người lao động, hoặc nhằm tuyển dụng lao động với mục đích bóc lột, cưỡng bức lao động, trong trường hợp chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự.
d) Biện pháp khắc phục hậu quả: Người sử dụng lao động có hành vi thu tiền của người lao động khi tham gia tuyển dụng buộc phải hoàn trả lại toàn bộ khoản tiền đã thu cho người lao động.
3. Trường hợp vi phạm về chậm đóng và trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
Nghị định 283 phân định rõ hai nhóm hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người sử dụng lao động, với mức chế tài khác nhau tương ứng với tính chất, mức độ nghiêm trọng của từng hành vi. Theo đó:
a) Nhóm hành vi chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
- Đối với nhóm hành vi không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Bảo hiểm xã hội (hoặc sau thời hạn này nhưng không thuộc trường hợp bị coi là trốn đóng), mức phạt tiền được xác định theo quy mô số người lao động bị ảnh hưởng, dao động từ 5 triệu đồng (dưới 10 người lao động) đến 75 triệu đồng (từ 1.000 người lao động trở lên), chia thành 8 bậc tương ứng.
- Riêng đối với hành vi đã đăng ký nhưng chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền theo hồ sơ đã đăng ký/không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm xã hội nhưng thuộc trường hợp không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của pháp luật; kể từ sau thời hạn đóng chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội (kể cả trường hợp đã bị đôn đốc theo Điều 35 Luật này), mức phạt được tính theo tỷ lệ 12-15% trên tổng số tiền chậm đóng tại thời điểm lập biên bản, tối đa không quá 75 triệu đồng. Trường hợp số tiền vi phạm dưới 400.000 đồng, chỉ áp dụng hình thức phạt cảnh cáo thay vì phạt tiền.
b) Nhóm hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
- Đối với hành vi không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người tham gia sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Bảo hiểm xã hội, mức phạt tiền cũng được phân theo quy mô lao động, từ 6 triệu đồng (dưới 10 người lao động) đến 75 triệu đồng (từ 1.000 người lao động trở lên) — cao hơn khung tương ứng của hành vi chậm đóng.
- Đối với hành vi đăng ký mức tiền lương làm căn cứ đóng thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội, hoặc không đóng/đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký sau 60 ngày kể từ thời hạn đóng chậm nhất và đã bị đôn đốc theo Điều 35 Luật này (nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự), mức phạt được tính theo tỷ lệ 18-20% trên tổng số tiền trốn đóng, tối đa không quá 75 triệu đồng.
c) Biện pháp khắc phục hậu quả áp dụng chung: Đối với cả hai nhóm hành vi nêu trên, người sử dụng lao động vi phạm đều bị buộc: (i) lập hoặc hoàn thiện hồ sơ đăng ký đầy đủ số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc; (ii) đóng đủ số tiền còn thiếu (tiền chậm đóng hoặc trốn đóng); và (iii) nộp thêm khoản tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền vi phạm và số ngày chậm/trốn đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.




